Lạy Chúa, con không đợi chờ,
Con quyết sống phút hiện tại,
Và làm cho nó đầy tình thương,
Vì chấm này nối tiếp chấm kia,
Ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút này nối tiếp phút kia,
Muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đời sẽ đẹp.
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Đường hy vọng so mỗi chấm hy vọng
Đời hy vọng so mổi phút hy vọng.
Showing posts with label Jesus. Show all posts
Showing posts with label Jesus. Show all posts
Sunday, November 6, 2016
Monday, August 8, 2016
WYD_Krakow2016 - Đại hội Giới trẻ Thế giới
Tôi rời khỏi Krakow để đến Zurich với tất cả những cảm xúc lẫn
lộn làm hành trang, bây giờ đã là 1 tuần kể từ lúc tôi không còn ở Krakow nữa,
và tôi đang ở nhà, nằm trên chiếc giường rộng rãi, êm ái, tiếng quạt máy vù vù
và tôi nhớ cái giường sắt ọp ẹp chỉ độ chừng 6 tấc ở Krakow, nhớ cái phòng tắm
tập thể, nhớ hàng ăn trước cửa nhà, nhớ những thùng táo đầy ắp phát miễn phí
cho mọi người, và những rổ bánh mì ngao ngán mỗi bữa sáng. Phải, tôi nhớ
Krakow.
Tôi đã luôn mơ ước được một lần trong đời tham dự Đại Hội Giới
Trẻ Thế Giới kể từ lần nhận được cây bút bi in chữ “WYD 2006 – Sydney” chị tặng.
Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day) là sáng kiến của Thánh Giáo Hoàng
Gioan Phaolo Đệ Nhị, tổ chức lần đầu tiên ở Rome vào năm 1985 với chỉ vỏn vẹn
300,000 người tham dự với bài hát chủ đề “Resta Qui Con Noi” (Hãy ở lại bên
con), vậy mà đến năm 2016 này tại Krakow đã có hơn 2 triệu khách hành hương
đăng ký và có đến 19,000 tình nguyện viên được huy động.
Vì sao tôi mong muốn được tham dự Đại hội ư? Hãy tưởng tượng
khi bạn được đứng giữa một rừng người trẻ đến từ khắp mọi nơi trên thế giới, từ
nhiều hoàn cảnh, ngành nghề, đam mê và ngôn ngữ khác nhau, nhưng bạn cùng hướng
về một giá trị thiêng liêng, lúc ấy, bạn được kết liên trong một niềm tin duy
nhất, điều đó không tuyệt hay sao? Khi bạn đứng giữa những người xa lạ cuồng
nhiệt, nhưng bạn lại đang cảm thấy như được ở cùng những người anh em ruột thịt,
và rồi bạn nhận ra, đây đích thực là anh em mình, bạn có cùng một Người Cha. Điều
này có vẻ tín ngưỡng, nhưng đích thị là như vậy, nếu bạn là một Hướng Đạo Sinh,
hãy tưởng tượng cảm giác này giống như cái cảm giác ở một Jamboree quốc tế nào
đó vậy, nó tương tự như vậy đó.
Tôi nhớ cái ngày nhận được email xác nhận mình trở thành
tình nguyện viên của đại hội, bạn quản lý tình nguyện viên đã gửi cho tôi một
tin nhắn đại loại như thế này: Chúc mừng bạn trở thành tình nguyện viên của đại
hội, đường đến Krakow còn dài lắm. Quả thật là rất dài. Từ chuyện xin visa, đến
chuyện xin chữ ký của Đức tổng, rồi chuyện xin nghỉ làm, rồi chuyện thu xếp các
trách nhiệm và cả chuyện sắp xếp tài chính nữa. Đó là một con đường rất dài và
không hề dễ dàng. Tôi đã khăn gói đến Krakow với một hành trang ngổn ngang như
vậy.
Trước khi đại hội bắt đầu 1 tuần, các tình nguyện viên được
đề nghị có mặt để bắt đầu các khóa tập huấn. Chúng tôi được chia sẻ các thông
tin cơ bản về Đại hội, về Krakow, về khách hành hương, về những người chúng tôi
phục vụ, rồi trong bối cảnh rối ren về an ninh, chúng tôi được tập huấn về chống
khủng bố, và sơ cấp cứu. Với vài ngàn người tham dự khóa tập huấn, thì việc tập
huấn cũng chỉ đạt ở mức độ “cưỡi ngựa xem hoa”, việc còn lại đó là cầu nguyện,
xin ơn bình an để không có điều gì đáng tiếc xảy ra trong đại hội. Tạ ơn Chúa,
đến khi tất cả mọi người rời khỏi Krakow, mọi thứ đều bình an.
Đã có rất nhiều bất mãn từ phía tình nguyện viên khi Ban điều
phối Tình nguyện viên chưa thật sự ăn ý và hiệu quả, nhưng chuyện chưa tốt này,
hãy để từng người tự cảm nghiệm. Bây giờ, tôi muốn kể về những điều tuyệt vời
mà tôi đã được trải qua trong suốt hai tuần này nhé!
1 – Tình bạn.
Tôi luôn biết rằng, bằng việc cùng ăn cùng ngủ cùng sinh hoạt
sẽ đưa mọi người xích lại gần nhau hơn. Đó là lý do vì sao Hướng Đạo đưa các em
đi cắm trại, không phải ở cái kỹ năng dựng lều, hay nấu bếp, mà là để thắt chặt
tình huynh đệ. Việc cùng sống với nhau trong 2 tuần đã giúp chúng tôi hiểu biết
và yêu quý nhau hơn, hoặc…ghét nhau hơn. Đùa đấy! Dù là hai bạn Slovakia giường
bên quả thật bầy hầy không chịu nổi nhưng đến phút cuối cùng khi kéo vali đi về,
chúng tôi vẫn không quên ôm nhau thật chân thành và cảm ơn nhau vì được gặp
nhau một lần giữa thế giới 7 tỉ người và cùng bất mãn, cùng tức cười, và cùng
dùng chung ổ điện.
Tình bạn được xây dựng trên sự đồng cảm, hy sinh, và chấp nhận
nhau. Đâu có ai được sinh ra và bị quy định là phải giống nhau như khuôn, chúng
ta được triển nở một các hoàn toàn khác nhau, từ ngoại hình, đến tính cách, từ
lối sống đến tư duy. Và việc chúng ta đồng điệu với ai đó, chấp nhận sự khác biệt
của ai đó, và hy sinh một chút cái tôi của ai đó là một khởi đầu của tình bạn.
Khi tình bạn bắt đầu nảy nở, những nỗi buồn, sự cô đơn, sự tẻ nhạt, sự căng thẳng,
nỗi bực dọc sẽ bị đẩy lùi và tan biến, thay vào đó niềm vui, sự ấm cúng, sự
bình an, và các cảm xúc tích cực khác sẽ bắt đầu được gia tăng.
Vào mỗi buổi tối, khi đi tắm cùng các bạn hoặc cũng có khi một
mình, tôi đã thầm cảm thấy thật hạnh phúc biết bao, hay lúc đi bộ về nhà, dù
gót chân rã rời, tôi có khi phải thốt lên “hên là có mọi người, Krakow còn dễ
thương”.
Bởi, tình bạn là một điều kỳ diệu có thể tạo ra.
2 – Sự bình an trong tâm hồn.
Vốn dĩ có quá nhiều thứ trong cuộc sống cướp mất sự bình an
trong tâm hồn mỗi người. Ví dụ như với tôi, mỗi sáng thức dậy, tôi bắt đầu phải
suy nghĩ làm sao để kiếm được nhiều tiền cho tổ chức, để các em có thêm thư viện,
chuyện giấy phép, chuyện cái bàn cái ghế, chuyện phải làm vui lòng ai đó, chuyện
phải cứng rắn với ai đó, chuyện phải đưa ra các thể loại quyết định. Rất nhiều
thứ trong cuộc sống thường nhật đẩy lùi bình an trong tâm hồn chúng ta và để
cho sự bất an xâm chiếm. Chúng ta lo lắng bị ghét, bị hờn dỗi, bị từ chối, bị
la mắng, bị xấu hổ, bị thất bại. Chúng ta lo sợ quá nhiều thứ, đến nỗi chúng ta
cho rằng sự bất an này là bình thường và chúng ta phải chấp nhận nó. Chúng ta
quên mất cái cảm giác bình an thật sự. Chúng ta không còn vui với người vui và
khóc với người buồn.
Suốt hai tuần lễ ở Krakow, tôi không ngừng hỏi Chúa: Chúa muốn
gì ở con, Vì sao con có được cơ hội này, Con có thể làm được gì nữa cho con,
cho anh em, Chúa muốn nói gì, Chúa muốn con đi đâu, Liệu đây có phải là quyết định
đúng, Liệu con có thật sự vô tư trong mọi chuyện, Liệu con có đang lợi dụng
Chúa,…Tôi không ngừng đặt câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời. Cho đến buổi chiều
ngày thứ bảy đó sau khi xưng tội trong công viên với một trận khóc lóc thảm thiết,
tôi tìm được cho mình sự bình an thật sự.
“Trong một bối cảnh, rào cản, chỉ cần
con cố gắng hết sức. Thiên Chúa luôn ban cho con người nhiều hơn những thứ họ xứng
đáng được nhận”.
Thật khó để mô tả trạng thái bình an này, nhưng đó là cái cảm
giác bỗng chốc, bạn thấy tâm hồn mình thật nhẹ nhõm, thật thư thái, bạn thấy bạn
được chúc lành và được sai đi.
3 – Quá khứ, hiện tại, và tương lai.
Trong buổi gặp mặt với các tình nguyện viên, Đức Thánh Cha
Phanxico, tôi hay gọi Ngài là người thương, vì Ngài đã và đang sống một cuộc đời
chứng nhân đẹp đẽ nhất mà tôi từng được thấy và chứng kiến. Trong buổi gặp mặt
đó, Đức Thánh Cha gọi chúng tôi, những người trẻ là “Tương Lai” (Futuro) với
hai điều kiện là “Ký ức” (Memoria) và “Sự can đảm” (Coraje).
Một người không có ký ức thì không thể có tương lai và một người
có tương lai là một người có can đảm để sống hiện tại.
Bao nhiêu lần, chúng ta không dám sống cái hiện tại của mình
chỉ vì lo sợ thử thách? Bao nhiêu lần, chúng ta lẩn tránh sứ mệnh của mình vì
không dám tự chèo lấy con thuyền của mình? Bao nhiêu lần, chúng ta núp bóng ai
đó với hy vọng tai ương sẽ chừa mình ra?
Tôi, chính tôi đã nhiều lần từ chối những thách thức và
chông gai, vì sự yếu đuối của chính mình. Thật không dễ dàng gì để nhận mình yếu
kém. Lại càng không dễ dàng gì để thật sự đối mặt với con người nhạt nhẽo và yếu
đuối của mình và quyết định đứng lên, phải sửa đổi thôi! Vì lời nói lúc nào
cũng dễ dàng nên chúng ta thường chọn nói hơn là làm. Lúc nào đó, khi bạn thấy
tôi đang bận lẩn trốn thực tại, xin hãy giúp tôi thức tỉnh.
Memoria + Coraje = Futuro
4 – Auschwit.
Ai cũng biết Auschwit là trại tử thần khủng khiếp trong thời
Đức Quốc Xã, là nơi hàng triệu người bị giết. Bạn biết đó, chúng ta không tạo ra
sự sống, vì vậy chúng ta không thể cho mình cái quyền cướp đi sự sống của bất kỳ
ai khác. Giết người là tội ác không thể chấp nhận được.
Vì Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trại Auschwit nên tất cả các buồng
giam (nơi được cải tạo thành phòng triển lãm) đều bị đóng cửa và an ninh thắt
chặt. Tôi đến thăm Auschwit vào một buổi chiều trong tuần, có rất đông khác
hành hương đang ở đây, sự nhộn nhịp bất thường này, niềm vui không thể che giấu
của những người trẻ này, vô hình chung đã đẩy lùi phần nào sự thê lương và bất
hạnh của nơi này. Nhưng bạn biết đấy, “những bức tường biết nói”. Bạn dường như
vẫn còn ngửi thấy mùi tanh lợm của máu, mùi mồ hôi của những con người bị ép
lao động đến kiệt quệ, tiếng khóc nghẹn ngào, tiếng thì thầm an ủi, tiếng la
hét của những con người tự cho mình cái quyền chà đạp người khác, bạn dường như
có thể cảm thấy nỗi tuyệt vọng từ những ô cửa sổ cũ kỹ…
Con người đã từng đối xử với nhau tàn nhẫn đến như vậy.
Lịch sử liệu có đang lặp lại? Chúng ta học được gì từ cái trại
tử thần này?
Tôi học được gì khi đứng trước câu chuyện của Thánh
Maximilian Kolbe, người đã đổi mạng sống của mình để một tù nhân khác được sống?
Tôi đã học được gì khi đứng trước phòng thí nghiệm trên người sống để tìm ra
thuốc chữa bệnh? Tôi đã học được gì từ những hàng rào kẽm gai?
Tôi đã nhận được nhiều hơn số tiền vé máy bay phải bỏ ra để
đến Krakow, tôi cũng đã nhận lại nhiều hơn những niềm vui, nhiều hơn những phiền
muộn mà tôi bỏ lại sau lưng để lên đường đến Krakow.
Vào một giai đoạn nào đó của
cuộc sống, bạn cần bức ra những thói quen thường nhật, làm một vài chuyện bạn
chưa từng làm, và để thử những thứ hoàn toàn mới mẻ, có thể bạn thích hoặc
không thích, nhưng bạn cần làm mới chính mình, đẩy mình đến những giới hạn mới,
để điều chỉnh lại bản đồ cuộc đời mình. Đi tìm sứ mệnh cuộc đời mình, để nhận
ra mình đã sống tệ như thế nào.
Bạn hỏi tôi “Bạn luôn rất tín ngưỡng như vậy từ lâu, hay đã
có biến cố gì làm bạn trở nên tín ngưỡng như vậy?”.
Bạn biết không, chúng ta thường “theo” (follow) nhưng không
mấy hiểu biết (understand). Chúng ta có một niềm tin khô cứng và rập khuôn mà
không hề hiểu gì về Người. Chính vì vậy, chúng ta thường bỏ của chạy lấy người
vì những ràng buộc và luật lệ. Nhưng khi chúng ta chợt nhận ra, Người chỉ có 1
điều luật duy nhất, đó là “yêu thương”. Làm sao có thể không yêu người đã chết
vì yêu?
Đôi khi, chỉ cần đi, còn lại cả thế giới, cứ để Chúa lo. Vậy thôi.
09.08.2016
Thương nhớ Krakow
Nhãn:
Cuộc lữ hành Emmaus,
Jesus,
Miên man tùy bút,
Poland,
Sống,
WYD2016,
YOUTH
Sunday, December 7, 2014
Những ngày buồn
Những ngày buồn trong đời thì nhiều lắm, có những ngày con buồn tới mức chẳng muốn làm gì, Chúa ạ, cứ thế nhìn ngày trôi, người qua.
Noel năm nào con cũng xin nhiều lắm, con xin đủ thứ trên trời dưới đất, năm nay con lại xin, con cũng xin nhiều, có khi nhiều hơn cả năm ngoái nữa, nhưng cái khác là, năm nay, con hiểu được giá trị của một mơ ước thành sự. Đó là cảm giác kiểu giống như "ừ nhỉ, đôi khi chỉ cần mở miệng ra xin là sẽ được thôi". Con không biết nữa, nếu như Chúa thật sự thấy thời điểm đến, và con xứng đáng, xin Chúa hãy gửi cơ hội đến. Con chỉ xin, mọi thứ được theo ý Chúa, vậy thôi ạ!
Noel năm nào con cũng xin nhiều lắm, con xin đủ thứ trên trời dưới đất, năm nay con lại xin, con cũng xin nhiều, có khi nhiều hơn cả năm ngoái nữa, nhưng cái khác là, năm nay, con hiểu được giá trị của một mơ ước thành sự. Đó là cảm giác kiểu giống như "ừ nhỉ, đôi khi chỉ cần mở miệng ra xin là sẽ được thôi". Con không biết nữa, nếu như Chúa thật sự thấy thời điểm đến, và con xứng đáng, xin Chúa hãy gửi cơ hội đến. Con chỉ xin, mọi thứ được theo ý Chúa, vậy thôi ạ!
Saturday, October 18, 2014
Nước Ý của tôi - Phần 4: Lucca, Pisa và người bạn cũ
Tôi dành tặng bài viết này cho chị Thảo, cảm ơn chị vì những
tiếp đón vô cùng chu đáo của chị trong chuỗi ngày lang thang ở Ý của tôi.
---
Tôi có khoảng hai tuần vừa làm việc vừa lê la ở Ý, tôi không
dự tính đến Lucca vì thời gian thì ít mà những nơi tôi muốn đến thì nhiều,
nhưng rồi mẹ nói nên ghé qua thăm chị một chút, cũng là để bố mẹ chị ở nhà có dịp
gửi ít đồ cho chị, những món đồ nhỏ, nhưng là tấm lòng của người cha người mẹ
cho con xa nhà. Vậy là tôi nghe mẹ, tôi báo với chị tôi sẽ đến Lucca ở với chị
một đêm.
Tôi rời Grosetto để đến Pisa trong tâm trạng một chút hụt hẫng,
một chút cô độc và đói, hôm đó là lễ tro, nên tôi nhịn ăn sáng, thật ra lễ tro
chỉ là một chuyện, nhưng hết tiền thì mới là chuyện làm tôi đắn đo. Đến Pisa,
tôi ngao ngán nhìn cái vali 30 ký của mình nặng chình chịch chỉ chực chờ vỡ
bung vì tôi đã cố nhét quá nhiều thứ trong đó. Nên tôi đã quyết định mua vé đi
thẳng đến Lucca và đinh ninh trong bụng là sẽ bỏ qua Pisa dù đã đến nhà ga của
thị trấn này.
Chị Thảo, gia đình chị sống ngay cạnh nhà tôi, tức là từ hồi
nào lọt lòng mẹ tôi đã biết chị, chị lớn hơn tôi nhiều tuổi, chị đi tu cũng
lâu, nên tôi cũng không có nhiều kỷ niệm với chị, tôi chỉ nhớ nhà chị trước đây
có nuôi hai con chó rất ngoan, con Đen và con Vàng, rồi sau này con Vàng chết
còn con Đen thì bị người ta bắt mất, tôi cũng nhớ mẹ chị mỗi lần đi chợ về sẽ gọi
lớn “anh ơi em về rồi”, tôi cũng nhớ những buổi tối nhà chị hội họp hay hát
thánh ca nghe rất sốt sắng, và tôi cũng nhớ một ngày nọ tôi không thấy chị nữa,
chỉ nghe mẹ nói chị Thảo đi Ý tu rồi, từ đó, tôi không gặp lại chị, mãi đến
cách đây vài năm, trước khi khấn trọn, chị được về thăm nhà một tháng, lúc đó,
tôi mới gặp lại chị.
Tôi đến nhà dòng chị đúng lúc cả nhà chuẩn bị ăn trưa. Đó là
một dòng nữ cổ kính và to lớn, cảm giác bước vào giống như một toà lâu đài cũ
trong phim vua chúa xưa của châu Âu vậy, kiểu lâu đài của bá tước hay hầu tước
gì đó, không hoành tráng như cung điện nhà vui, nhưng rất tôn nghiêm, rộng lớn
và im ắng. Chị dẫn tôi vào nhà nguyện cất đồ rồi hối thúc tôi đi ra ăn trưa
cùng với cả nhà. Cả nhà có 6 – 7 sơ thì hầu hết đều là U70, chỉ có chị và một
sơ người châu Phi nữa là U30 thôi, chị nói ở đây là vậy, khủng hoảng ơn gọi,
khi mà giới trẻ từ chối lời mời gọi của Chúa, và chọn một cuộc sống vì mình nhiều
hơn, thì nhà dòng nào rồi cũng tiêu điều như vậy. Đó là bữa ăn trưa ngon nhất
mà tôi được thưởng thức ở Ý, bởi đó là bữa cơm gia đình ấm cúng, đó là bữa cơm
mà mọi người cầu nguyện trước khi ăn và tạ ơn sau khi ăn xong, và đó là bữa cơm
mà tôi thấy bà sơ 70 tuổi lụm cụm lột quýt cho bà sơ 90 tuổi.
Khi nghe tôi kể tôi đã quyết định bỏ lỡ Pisa, chị tiếc nuối
bảo tôi đi thay đồ cho thoải mái, chị sẽ bắt bus đưa tôi đi Pisa, đã đến Ý rồi
thì đừng bỏ qua những cái như vậy. Vậy là trong lúc tôi sắp xếp đồ đạc và thay
đồ, chị đi xin phép bề trên đưa tôi đi Pisa chơi.
Căn phòng tôi ở là một căn phòng chắc dùng để tiếp khách, những
chiếc giường đơn bằng sắt giản dị với bộ ra trắng và một chiếc gối, trên tủ đầu
giường là tấm hình chân phước Elena Guerra, đấng sáng lập dòng Chúa Thánh Thần,
tức là nhà dòng tôi đang ở.
Pisa cách Lucca chỉ khoảng 30 phút đi xe bus, nếu đi tàu thì
nhanh hơn, nhưng hôm đó chuyến tàu từ Lucca đi Pisa bị huỷ do quá ít khách nên
chúng tôi đi bus. Trên chuyến xe bus vắng tanh vòng vèo qua những con đồi, đây
là lần đầu tiên tôi nói chuyện với chị nhiều như vậy. Tôi kể chị nghe những mẩu
chuyện rời rạc ở giáo xứ chúng tôi, những người quen mà cả chị và tôi đều biết,
tôi kể với chị lý do vì sao tôi được đi Ý, rồi tôi dự tính những gì khi tôi về,
tôi đã suýt khóc khi nói với chị những dự tính mịt mờ của mình. Rồi chị cũng kể
tôi nghe những ngày chị ở đây, những khó khăn khi học tiếng Ý, những ngày sống
đời ơn gọi, những người bạn của chị ở đây. Có một điều chị nói mà tới giờ tôi vẫn
chưa làm dù càng ngẫm càng thấy đúng, chị bảo tôi nên viết lại nhật ký tôi nói
chuyện với Chúa, chỉ cho riêng tôi thôi, để những lúc sóng to gió lớn ở đời,
tôi lấy ra đọc lại và chiêm nghiệm, Chúa đã yêu tôi biết dường nào. Tôi chưa
làm được điều này, tôi cũng không biết nữa, tôi vẫn chưa cảm thấy thôi thúc cho
lắm.
Chúng tôi rời Pisa chóng vánh như khi chúng tôi đến, phải bắt
kịp bus để về lại Lucca cho kịp giờ lễ chiều, trước lúc lên xe, tôi ngoái đầu
nhìn lại một lần cuối tháp nghiêng, nhà thờ cổ và giếng rửa tội, những người trẻ
nằm phơi nắng trên thảm cỏ xanh ngắt, những thứ đó có vẻ lạc lõng kỳ lạ giữa thị
trấn đầy xe hơi, hàng lưu niệm và những người trẻ với Iphone tai nghe.
Lucca là một thành phố giản dị ở Ý, không phải thành phố du
lịch nên dân chúng ở đây cũng rất hiền hoà. Ở đây lại có nhiều dòng tu đặc nhà
tổng nên thành phố cũng tự dưng mang dáng dấp thánh thiện hẳn, gần nhà dòng chị
Thảo là một trại cải tạo thanh thiếu niên, chị kể, thỉnh thoảng cũng có vài đứa
trốn trại nhưng dễ gì, chạy dọc hàng rào cũng đuối rồi, mà quả thật như vậy, buổi
chiều đi bộ thôi tôi cũng đuối đơ hàng rồi. Khổ thân tụi nhỏ.
Đây không phải là lần đầu tiên tôi ngủ lại một nhà dòng, ở
Việt Nam, gia đình tôi cũng hay lên dòng Biển Đức nữ ăn tết cùng các sơ, nhưng
đêm hôm đó là đêm bình yên nhất mà tôi trải qua ở Ý, tôi nằm một mình trong
căng phòng lạ, nhìn ánh đèn đường hắt qua chấn song cửa sổ, nghe hơi ấm máy sưởi
phải từng đợt, lắng nghe sự yên tĩnh, tiếng đọc kinh đâu đó vang lại, đó là lần
đầu tiên, tôi chìm trong bóng tối giữa căn phòng xa lạ và không hề cảm thấy sợ
ma, có lẽ vì lúc đó tôi cảm nhận được sự hiện diện của Chúa rất gần, giấc ngủ đến,
dập tắt những suy nghĩ, những kế hoạch và những lời thoại rời rạc với “anh
Jesus”, tôi đã ngủ một giấc ngủ bình an cho đến khi báo thức kêu tôi dạy đi lễ
sớm.
Tôi tạm biệt Lucca với cái ôm siết chặt của chị, với lời cầu
chúc bình an và lời hứa cầu nguyện cho tôi của chị. Tự nhiên tôi cảm thấy ngậm
ngùi, giống như tôi sắp, sẽ rời xa một người bạn lâu năm và giống như không biết
đến bao giờ mới gặp lại nhau. Đến giờ, thỉnh thoảng khi về lại Việt Nam, những
đêm buồn buồn với ngổn ngang những kế hoạch chưa đâu ra đâu, tôi nhớ lại đêm
bình an ở nhà dòng Spirito Santo ở Lucca, tôi nhớ cái trạng thái bình an đó. Thỉnh
thoảng đi siêu thị ở Việt Nam, bắt gặp bánh phô mai cắt theo kiểu Âu, tôi nhớ tới
chị.
Bởi vậy, cuộc sống hợp tan, không làm gì được cho nhau thì
chỉ có thể dùng lời nguyện, nhắn gió gửi mây không bằng nhờ Chúa quan tâm chăm
sóc đặc biệt những người xa.
Tôi đã đến Lucca và Pisa như vậy, có những đêm ở Sài Gòn,
tôi lại nhớ thương.
-Tâm Vũ-
Sunday, February 16, 2014
Lan man
Chúa ơi, nếu chỉ cần đơn giản là tin và vứt hết những thứ sân si ở đời, chắc sẽ chẳng có ai lạc đạo đâu. Nhưng theo Chúa mà không vứt bỏ được hết những thứ bụi trần, con cảm thấy băn khoăn quá. Đôi khi con thấy tin là một chuyện, còn sống đức tin lại là một cảnh vực hoàn toàn khác, quá xa vời, quá cao siêu.
Nhiều lúc con thực hiện mấy cái dự án này nọ, mấy cái phi vụ từ thiện, đúng là mình chẳng sơ múi gì được hết, nhưng mà sao vẫn thấy khó khăn quá! Con không biết, liệu những thứ con đang làm, có phải là điều làm Chúa vui lòng không nữa.
Chúa ơi, con vẫn muốn tự hỏi, cuộc đời con, Chúa muốn con đi đâu và làm gì để vinh danh Chúa đây? Chúa nói hoa huê ngoài đồng mà Chúa còn chăm lo cho nó đẹp như vậy huống hồ là con cái Chúa, nhưng hình như nỗi lo cơm áo gạo tiền nhiều quá con vẫn còn cứ lưỡng lự theo Chúa.
Dẫn con đi, dẫn con đi theo Chúa, Chúa nha!
Monday, December 2, 2013
Phnom Penh - Chuyến đi để lớn lên
Tôi vội vàng kéo va li ra khỏi nhà sau chuyến huấn luyện ngắn ngày ở Củ Chi để đến Phnom Penh, đó là một ngày nắng đẹp và đầy háo hức; xe gần như chỉ còn chờ mỗi tôi nữa là sẽ xuất phát. Phnom Penh đón tôi trong màn đêm khô hanh và không quá náo nhiệt, một chút xe máy, một chút xe hơi, người ta nói tiếng Việt trọ trẹ, tôi thấy tức cười vì âm sắc vần “ư” dường như xuất hiện ở mỗi câu chữ của người Cambodia. Tôi bắt đầu nhớ nhà.
Tôi nhận lời
Eljay, chủ tịch SIGNIS Châu Á, tham gia chuyến tập huấn cấp kỳ dành cho các VJ
trẻ tuổi, cùng niềm tin Thiên Chúa giáo muốn dùng truyền thông để loan báo tin
mừng và hoà bình. Tôi cứ tưởng tôi sẽ có những buổi tối lang thang khắp các nẻo
đường Phnom Penh để ngắm nhìn cuộc sống của những người “anh em”, hay chí ít là
bắt chuyến xe đi Siem Reap thăm thú cái gọi là Biển Hồ, Angkor Wat, hay tệ thì
cũng phải là Angkor Thom. Tôi còn tính sẽ đi ra chợ Central market mua lạp xưởng
cho mẹ, hay ghé ngang cung điện nhà vua chụp tấm hình làm kỷ niệm “coi như là…”.
Tôi còn tưởng mình sẽ đi nát Phnom Penh City để xem xứ người ta phồn hoa như thế
nào, cầu cống ra sao, hay chí ít thì cũng đi vào thử cái shopping mall xem thử
hàng hiệu xứ Cam bày biện ra làm sao.
Ngược lại với
mấy cái tính và tưởng của tôi, nguyên ngày đầu tiên chúng tôi chỉ ngồi trong
nhà, chia sẻ về những gì rất riêng của mỗi người, gia đình, học hành, công ăn
việc làm, bạn bè, cái thích, cái không thích. Chỉ đơn giản vậy thôi, nhưng
không hiểu sao tôi thấy yêu hơn người bạn Lào chung phòng của mình, người lúc
nào cũng vui vẻ nhưng khi nhắc đến chuyện chồng con lại muộn phiền, tôi thấy
yêu hơn anh bạn Indo hay cười, bẽn lẽn nhưng lại rất thẳng thắng và khiêm nhường
khi nói với mọi người rằng tôi không học hành thành công và tôi chỉ bắt đầu với
vị trí của anh chạy việc vặt trong văn phòng, và giờ thì sao, bạn là thần tượng
của mọi người với kỹ năng dựng phim đỉnh của đỉnh, tôi thấy yêu hơn chị bạn người
Mã Lai khi chị nói chị là một người mơ mộng, chỉ cần nghe chị có thể tưởng tượng
ra hành trình của người kể, tôi thấy yêu hơn anh chàng Myanmar hiền lành và điệu
đà, cứ mỗi lần hỏi về cô con gái 4 tuổi là lại cười thẹn thuồng, tôi thấy yêu
hơn anh bạn Cam bu chia cười cười nói với tôi anh ta nói được tiếng Việt. Chỉ
giản đơn vậy thôi, chúng tôi hiểu nhau hơn, chúng tôi quý nhau hơn, và quan trọng
hơn, chúng tôi học cách chấp nhận lẫn nhau, bắt đầu bằng nụ cười mỗi buổi sáng,
nắm tay cầu nguyện mỗi buổi chiều.
Chúng tôi học
cách quay phim và làm việc nhóm, chúng tôi được trao cho những công cụ khác
nhau, từ đơn giản đến cao cấp, tôi còn nhớ nhóm tôi được giao đi phỏng vấn anh
phụ trách chương trình “Messenger” chỉ với cái điện thoại Nokia Xpress 3.2 mp của
mình, ấy vậy mà cũng thành một bài phỏng vấn ngon lành, được vỗ tay lộp độp,
khen dựng hay, câu hỏi tốt, diễn đạt hoàn chỉnh này nọ, thấy vui vui vì hình
như mình đang học một bài học mới, công nghệ là quan trọng nhưng đừng để công
nghệ làm bạn chùng chân. Tôi thấy hay quá sá, thế là buổi chiều tôi và bạn cùng
nhóm hăng hái xách cái DSLR của bạn đi phỏng vấn anh lái xe tuk-tuk, lần đầu
tiên tôi thấy cái cảnh hỏi bằng tiếng Việt, trả lời bằng tiếng Khmer và phụ đề
tiếng Anh, tôi nể anh bạn cùng nhóm tôi quá trời!
Hai ngày cuối
cùng, chúng tôi dành thời gian đi thực địa tại một khu ổ chuột nhếch nhác, đến
nỗi vị tập huấn viên người Ấn Độ còn phải thốt lên “tôi không ngờ lại có một
nơi ô nhiễm và nhếch nhác như thế này. Ở Ấn Độ chúng tôi có rất nhiều những khu
ổ chuột, nhưng đến mức như vầy thì chưa bao giờ”, rồi tôi được gặp người phụ nữ
Nhật dành 10 năm cuộc đời mình để phục vụ cho một nơi như thế, họ đơn giản chỉ
là mở trường mẫu giáo để trẻ con mỗi ngày được uống sữa, ăn uống tử tế và đi tắm
trước khi về lại nơi chật chội, hôi hám đó. Họ chỉ đơn giản mở những buổi tập
huấn vào cuối tuần để dạy những bà mẹ trẻ vệ sinh, dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ
cho trẻ em. Họ chỉ đơn giản dạy những bà mẹ đơn thân cách làm kem, làm bánh
rotti rồi cấp vốn cho các bà mẹ này đi bán để thay đổi cuộc đời. Chỉ đơn giản vậy
thôi, trong suốt 10 năm, họ âm thầm cống hiến. Người phụ nữ đó đã nói một điều
mà tôi cho rằng chắc tôi sẽ khó mà quên được “Tôi đâu có chọn Cam bu chia để đến,
nhưng vì tôi là người Công Giáo, và Thiên Chúa gửi tôi đến đây, tôi tin vậy…Tôi
làm việc với những người nghèo và họ cho tôi sức mạnh cũng như năng lượng”.
Chương trình
một tuần, mỗi ngày chúng tôi làm việc từ 7 – 8h sáng và lê lết về phòng ngủ có
khi 2 – 3h khuya, tôi nhớ đêm cuối cùng, nhóm 4 đứa chúng tôi hoàn tất phim lúc
4h, và dường như tôi đã không hề thay đồ khi về đến khách sạn. Nhiều lúc tôi
cũng nghĩ, quái lạ, đi như vậy có thêm được lương bổng hay có bằng cấp gì đâu
mà chúng tôi, tất cả chúng tôi lấy đâu ra mà nhiều năng lượng và nhiệt huyết đến
vậy để làm việc gần 20 giờ mỗi ngày.
Tôi tạm biệt
Phnom Penh và những người bạn trong ánh nắng vàng rực rỡ, gió mơn man và một sự
bùi ngùi không nhẹ trong lòng. Tôi vẫn cứ thấy tiếng vì chưa gặp lại được anh
chàng nhiếp ảnh gia tài năng và cá tính mà nghê đồn đâu đó là người gốc Việt.
Ngồi trên xe gà gật mà tôi cứ tiếc vậy đó. 7 ngày trôi qua cứ tua thật nhanh
trong đầu như một cuốn phim đẹp đẽ bạn không nỡ tắt khi đã hết. 7 ngày trôi
qua, đi từ bất ngờ ngày đến bất ngờ khác, tôi thấy mình lớn lên.
Tôi sẽ nhớ,
nhớ hết mọi người, vì đã khoan dung với tôi, một người trẻ khiếm khuyết và nông
cạn.
-Tâm Vũ-
Tuesday, November 22, 2011
Tranh Luận - Dũ Lan LÊ ANH DŨNG
-Bài viết sưu tầm từ báo Công Giáo & Dân Tộc-
"Người ta thấy Thượng Đế mỗi ngày chỉ có điều họ không nhận ra Ngài - People see God everyday, they just don't recognize Him"
Pearl Bailey (nữ nghệ sĩ Mỹ, 1918 - 1990)

Đây là một chuyện tôi nghe :
Một vị giáo sư thách thức sinh viên trả lời câu hỏi này:
- Có phải Thượng Đế tạo ra mọi thứ đang hiện hữu?
Một sinh viên mạnh dạn đáp :
- Thưa thầy, đúng vậy.
- Nếu Thượng Đế tạo ra mọi thứ, vậy thì Thượng Đế cũng tạo ra tội ác, vì tội ác đang hiện hữu. Như thế, Thượng Đế ác chứ không thiện.
Trước lập luận này, sinh viên kia nín lặng. Vị giáo sư đắc chí, huênh hoang với cả lớp rằng ông đã chứng minh thuyết Thượng Đế sáng tạo vạn vật là một huyền thoại.
Một sinh viên khác bèn giơ tay :
- Em hỏi thầy một câu được không ạ?
- Mời anh.
- Thưa thầy, lạnh có hiện hữu không ạ?
- Sao lại không? Anh chưa bao giờ bị lạnh ư?
- Thưa thầy, thật ra lạnh không hiện hữu. Theo luật vật lý, cái mà chúng ta cho là lạnh thực sự là thiếu nhiệt. Không độ là tình trạng hoàn toàn không có nhiệt, khi đó cơ thể trơ ra và không thể phản ứng lại. Chúng ta tạo ra chữ "lạnh" để diễn tả trạng thái thiếu nhiệt. Cho nên lạnh không hiện hữu.
Sinh viên ấy lại hỏi :
- Thưa thầy, bóng tối có hiện hữu không?
- Ồ, hiển nhiên là có chứ!
- Thưa thầy, thật ra bóng tối không hiện hữu. Bóng tối chỉ là tình trạng không có ánh sáng. Chúng ta có thể nghiên cứu ánh sáng chứ không nghiên cứu được bóng tối. Chúng ta có thể dùng lăng trụ (prism) của Newton để tách ánh sáng trắng ra thành nhiều màu và nghiên cứu độ dài sóng (wavelengths) khác nhau của mỗi màu. Chúng ta đo được ánh sáng nhưng chúng ta không đo được bóng tối. Chúng ta tạo ra chữ "bóng tối" để diễn tả trạng thái không có ánh sáng.
Sinh viên ấy lại hỏi :
- Thưa thầy, tội ác có hiện hữu không?
- Thì tôi đã nói là có. Chúng ta vẫn thấy nó hàng ngày quanh ta, hình thức này hay hình thức khác.
- Thưa thầy, tội ác không hiện hữu, hay nói đúng hơn tội ác tự nó không có. Tội ác đơn giản chỉ là thiếu vắng Thượng Đế. Tương tự như lạnh và bóng tối, con người tạo ra chữ "tội ác" để gọi sự thiếu vắng Thượng Đế. Tội ác là hệ quả của những con tim thiếu vắng tình thương Thượng Đế. Nó giống như khi thiếu nhiệt thì ta bị lạnh, thiếu ánh sáng thì ta bị bóng tối bao phủ. Vậy, Thượng Đế không tạo ra tội ác. Thượng Đế là thiện.
Bà Chiểu, 18-7-2011
-sưutầm-
Tuesday, October 13, 2009
Pray Oct. 13th
Subscribe to:
Posts (Atom)

