Sunday, July 6, 2014

Ghi chú số 2: Những kỷ niệm đánh rơi

Nhiều khi ngẫm nghĩ, đó là một buổi chiều đứng trước muôn trùng biển xanh, rồi xa xa đâu đó trong tiếng sóng biển vọng lại là tiếng còi, tù và, rồi là tiếng ai đó cười giòn tan, hay tiếng la hét chí choé. Nhiều khi thấy, đó là một buổi đêm ẩm ướt sau cơn mưa rào ban chiều, là tiếng hàng dương xôn xao, là mùi củi lửa thơm nồng, là bóng ai ngồi vai sát vai rì rầm. Nhiều khi mơ màng nhận ra, đó là một buổi sớm mặt trời vừa thức giấc đâu đó, là cơn gió liu riu thổi sương đọng trên lá, là tiếng ai đó ngái ngủ bình yên, hay tiếng võng đưa cọt kẹt.

Nhiều lúc tôi thấy mình sống bằng kỷ niệm, tức là một năm có 365 ngày, nhưng chỉ với lượng điện năng vài ngày góp lại, tôi sống khoẻ cả năm, hay chỉ vài năm hạnh phúc ngắn ngủi, tôi sống vui những ngày dài chán chường. Cuộc đời quả thật có nhiều cái vui, những niềm vui chóng vánh, nhanh đến nhanh đi, những nụ cười giòn tan, những trận nước mắt long trời lở đất nhưng rồi cũng chìm nghỉm, chỉ có những mong ngóng của ngày hè là ở lại.

Đôi khi giống như bệnh nghề nghiệp, ra đường thấy dấu cỏ cây tưởng dấu đường, thấy hoa bách hợp tưởng nhà Hướng Đạo, thấy màu áo kaki nhớ những người thương. Đôi khi nhìn đâu cũng thấy phương pháp hàng đội cũng thấy cờ đội, gậy nạn. Nhưng rồi cuộc sống không như một kỳ trại chỉ toàn niềm vui gạt mất nỗi buồn, cuộc sống giống như guồng máy, cứ quay cứ cuốn, những mối dây bền chặt lỏng dần rồi xa cách. Dù mỗi sớm mai thức dậy có cố gắng tăng đơ đi nữa thì dây cứ sờn cứ dãn rồi đứt ra.

Bởi vậy mới thấy cuộc sống đủ màu. Nhưng những chỗ màu trộn màu thì lại xám xịt, cứ những lúc chìm đắm trong vết màu loang thì lại nhớ những khoảng màu trong sáng. Những trải nghiệm vui vẻ qua rồi, nhìn thế hệ đàn em đánh rơi mà thấy tiếc, chỉ mong có thể đi đằng sau giúp các em nhặt nhạnh và bỏ lại vào túi các em dặn dò “đừng em, giữ lấy đi, đừng bỏ lỡ”.

Có những ngày trời đầy gió và giông, có những mái bạc bay phừng phực như sắp đứt, có tiếng dây ni lon bay bay loẹt xoẹt, tự dưng lại thấy thân thương vô cùng, tôi chợt nhớ những chiều trời chuyển cơn mưa, dáng nhỏ liu xiu chạy vội về lều, hạ lều vì sợ già néo đứt dây, tôi thương phụ tá nửa đêm lồm cồm bò dậy chạy xuống lều hỏi thăm tụi nhỏ, tôi thương đám nhỏ mặt ngơ ngáo say ke ôm ba lô lên chòi minh nghĩa ngủ say sưa.

Có những ngày trời vàng rực đầy nắng và những cái bóng đổ dài dưới mặt đất, có tiếng lá khô bay lao xao trong gió, hay tiếng quạt tay phành phạch, tôi thấy thương vô cùng như thể đó là một phần mình đang có, tôi nhớ những buổi trưa hanh nóng, mồ hôi mồ kê chảy dài hai bên thái dương, ai đó cầm còi bắt ghế đứng chỉ đạo trò chơi, bọn trẻ con thì hớn hở cười quên cả nắng, rồi ai đó chạy qua cho mượn cây quạt quạt pành pạch cho đỡ nóng giữa cái nắng chói chang và rích chịt của buổi trưa nơi bờ biển, cái mùi ngai ngái của cá và muối.

Tôi cứ ôm cái tương tư đó cả năm trời và chờ đợi mỗi năm một lần cái cảm giác đó sẽ lại ùa về. ngập tràn, và dư đầy, để tôi tham lam ôm lấy ôm để cái nồng nàn đó để dành xài từ từ trong năm. Tôi nhớ cảnh, tôi nhớ người.

Tôi nhớ những người nâng đỡ tôi những tháng ngày đầu tôi chập chững tham gia cuộc chơi, tôi nhớ những người xỉ vả tôi nhưng cũng lại quay qua chỉ vẽ tôi những ngày đầu non dại. Tôi nhớ những người kê vai gánh cùng tôi cái gánh nhọc nhằn và khó khăn, những người đứng bên cạnh kéo tôi tiến lên, những người chỉ cười hiền hiền nói “bỏ qua đi chị”. Tôi nhớ những người ôm tôi luyến tiếc và khóc “chị ơi em đi”. Tôi nhớ người cũng nhiều như những gì chúng tôi đã cùng trải qua, có một loại cảm giác sâu sắc cũng như thể đi qua một mối tình nhiều năm và đầy kỷ niệm, sến như thể một nhà thơ nào đó nói “có mấy ai đi qua thương nhớ mà quên được nhau”.

Chưa biết rằng chặng đường dài phía trước không có những người đó tôi sẽ biết đi thế nào, nhưng hiện tại sự trống trải này hụt hẫng quá. Đừng nói mọi thứ rồi sẽ qua đi, vì mọi thứ hiện giờ rối rắm, trống trải và nặng nề lắm, sẽ làm sao nếu phải một mình rong ruổi đi tiền trạm, sẽ làm sao nếu phải một mình trong đêm vẽ nên những kê hoạch, sẽ thế nào khi đêm về giữa đất trời mênh mông lại ngồi một mình. Không phải tôi lo xa, bi quan hay hoài niệm, chỉ là một thực tế khó khăn mà có lẽ ai trong chúng tôi, ở một góc nhỏ nào đó rồi sẽ phải trải qua thôi. Một cách lặng lẽ và cô đơn, chúng tôi sẽ phải đi qua và buông rơi những kỷ niệm, vì thời gian sẽ giúp chúng tôi cái chuyện xoá nhoà.

Hai tuần nữa, hai tuần nữa sẽ là cơ hội để thu nạp, có lẽ là lần cuối cái nguồn năng lượng thương yêu này, đừng để trôi mất, đừng để rơi mất cái gọi là tình huynh đệ vì những toan tính con người. Yêu thương thì cứ yêu thương thôi.


-HNTT-

Saturday, June 14, 2014

Ghi chú số 1: Những giấc mơ vỡ vụn



Tôi luôn mơ ước mình sẽ có một cuộc sống dễ dàng và đơn giản khi lớn lên, không cần phải lo nghĩ nhiều, không cần phải bon chen hay bận tâm  điều gì, cứ sống thôi là đủ rồi.

Tôi luôn mơ ước mình sẽ có một cuộc sống thật thi vị và ấn tượng khi lớn lên, tôi sẽ được nhiều người biết đến, ngưỡng mộ và trở thành thần tượng của ai đó, thật tuyệt vời.

Tôi luôn mơ ước mình sẽ có một cuộc sống ý nghĩa và giản dị khi mình lớn lên, ra đi để đem niềm vui đến cho mọi người, cứ phục vụ thôi là vui rồi, phải thật ý nghĩa.


Tôi đã từng mơ ước rất nhiều thứ khi mình lớn lên, hầu hết các ước mơ đều rất mâu thuẫn, phụ thuộc vào từng giai đoạn của cuộc sống, lúc nào vui, lúc nào buồn, lúc viên mãn, lúc tuyệt vọng. Ước mơ thường phản ánh những khao khát thầm kín nhất của con người, cũng là động lực để con người vươn ra khỏi cái tôi ích kỷ và lười biếng của bản thân. Để có thứ gì đó cần phải đạt được, để trở nên tốt đẹp hơn, để trở nên hữu ích hơn.

Tôi đã từng mơ những giấc mơ rất lớn, tôi mơ về những điều không tưởng, tôi mơ chuyện vĩ mô. Nhưng cuộc sống thì thực tế hơn nhiều, cuộc sống là những gáo nước lạnh lùng tạt thẳng vào mặt chúng ta khi chúng ta lơ lửng khỏi mặt đất. Có người bừng tỉnh sau cơn mê và hùng hục thực hiện ước muốn của mình, cũng có người ê chề quay đầu và từ bỏ.


Năm 2007, tôi đã từng mơ về một tương lai không xa cho HĐVN, tôi mơ rằng một ngày nào đó, anh em HĐ sẽ vui vẻ bắt tay nhau, chia sẻ những đêm củi lửa thơ mộng giữa rừng, giữa biển. Tất cả sẽ vì trẻ thơ thôi, đừng vì cái tôi của bất cứ ai hết. Tôi đã nghĩ tương lai đó gần lắm, chỉ vài năm nữa thôi, mình sẽ làm được, các trưởng sẽ làm được. Nhưng cuộc đời không như là mơ, đôi khi người ta không chơi trò chơi theo luật đã đề ra, những toan tính vụn vặt, những mưu toan nhỏ nhặt dập tắt giấc mơ tôi. Lắm lúc nghĩ, nếu mình yêu trẻ, thì cứ hãy vì trẻ thôi, không làm HĐ nữa cũng được.

Năm 2009, tôi đã mong rằng khi xã hội văn minh hơn, công nghệ cũng tiên tiến hơn, mọi người sẽ nhìn nhận nhân phẩm của nhau như giá trị vốn có của nó. Nghĩa là con người được quyền sinh ra, con người được sống, con người được lớn lên, con người được già đi, con người được chết đi theo quy luật tự nhiên. Nghĩa là không ai có quyền quyết định chấm dứt sự sống của ai cả, nghĩa là trẻ em phải được tôn trọng và tạo điều kiện phát triển. Nhưng đời không như là mơ, vì người ta lớn, người ta cho mình cái quyền quyết định sự sống của người khác, xử tử, phá thai, giết người, tự sát…sự sống quá rẻ mạt để phải suy nghĩ, không cần phải nghĩ, cứ thích thì làm thôi, một giọt máu thì đơn giản thôi.

Những giấc mơ khép dần theo năm tháng, đôi khi tôi có cảm giác mình bước vội quá đến nỗi quên mất mình đã tính đi đâu về đâu, đôi khi tôi tưởng mình đã quên mất con đường mà mình đã chọn.

Mơ ước, không phải cứ quyết tâm là sẽ làm được. Quyết tâm chỉ là phương thuốc giúp cho con người ta đỡ áy náy khi thất bại, mà thôi.

-Tâm Vũ-

---


Như mọi lần, tôi tính viết gì đó tặng ba nhân ngày của ba, nhưng cứ viết thì lại ra chuyện khác.
Chúc mừng ngày người cha, chúc ba luôn luôn vui vẻ, đẹp trai, và nhiều sức khoẻ.

Thursday, June 5, 2014

Sài Gòn

Nếu có ai đó hỏi tôi từ đâu đến, tôi sẽ chẳng ngại ngần mà nói tôi đến từ Sài Gòn. “Sài Gòn” là cái tên xưa cũ của nơi tôi sinh ra và lớn lên. Nhiều người gắn Sài Gòn với những câu chuyện lịch sử và chính trị, nhưng thật ra, với tôi, Sài Gòn cũng chỉ là Sài Gòn thôi, là cái tên thân thương để dù đi bao xa, thỉnh thoảng lại phải thốt lên “trời ơi, nhớ Sài Gòn quá”.

Tôi có một anh bạn quốc tịch Mỹ, tôi hay chọc anh là người quốc tế. Nghĩa là, cha mẹ anh thì người Mỹ, nhưng sinh anh ra khi đang công tác ở Pháp, rồi vài năm sau gia đình lại chuyển đến Nhật, rồi anh lớn lên ở Trung Quốc, sau đó, khi cha mẹ anh hết nhiệm kỳ công tác, gia đình anh lại quay về Mỹ để anh hoàn tất chương trình cử nhân, hiện tại thì anh đang dạy tiếng Anh tại một trường quốc tế ở Sài Gòn. Có lần tôi chọc anh là người quốc tế và cảm khái khen bạn tôi sướng, vì được đi khắp nơi, đắm chìm trong nhiều nền văn hoá khác nhau, ban đầu anh còn cười cười ra vẻ tự hào, nhưng rồi tự dưng anh rầu rầu nói, thật ra, mỗi người đều cần có một nơi chốn gọi là “quê hương”, nó cũng giống như mọi cái cây đều cần có rễ có gốc, không có gốc rễ, cái cây tự nhiên trở nên chênh vênh và dễ ngã biết chừng nào, con người cũng vậy, bạn cần có một nơi chốn thân thương, để dù bạn đi đâu, làm gì, bạn luôn có một nơi để quay về, “return”, bằng không, cuộc đời bạn sẽ rất chông chênh, đôi khi hoang mang, mỏi mệt.

Tôi may mắn hơn anh bạn tôi, bởi tôi có Sài Gòn tôi thương, tôi thương những cung đường vàng nắng, những con người Sài Gòn rộng lượng, và tôi thương những mái nhà nhấp nhô. Không đâu giống như Sài Gòn tôi thương, không đâu có những con người kỳ lạ như ở Sài Gòn, nhiều lúc tôi cảm thấy Sài Gòn giống như thỏi nam châm hút người, người ở đâu cứ kéo nườm nượp về tranh giành Sài Gòn của tôi, nhưng rồi tôi nhận ra, họ dù ít dù nhiều, cũng yêu Sài Gòn như tôi vậy.

Sài Gòn giống như một hợp chủng phố nho nhỏ, nơi mọi người, mọi miền, tứ phương thiên hạ đổ về, ở Sài Gòn đại khái là bạn có thể tìm thấy mọi thứ bạn cần từ thứ trà đen Sri Lanka đến thứ trà Anh thượng hạng, tất cả nằm chung một quầy trong một cửa hàng bán đồ nhập khẩu. Bạn có thể thấy chiếc Lamborghini phăm phăm trên đường bên cạnh chiếc Nissan Nhật Bản. Ở Sài Gòn có những tháng trời se sắt gió, người người áo lạnh xúng xính, nhưng rồi cũng có những lúc trời nóng đổ lửa, nghĩ đến mặc đồ là thấy mệt. Sài Gòn có những con đường dọc sông, rạch xanh mướt và thum thủm cái mùi đặc trưng, Sài Gòn cũng có những con đường rợp lá me, bóng nắng rung rinh trong gió.

Không ở đâu giống được Sài Gòn của tôi, nơi bên cạnh căn nhà cổ kính liu xiu lại là một toà nhà bề thế hiện đại, nơi công viên công cộng những tốp người ngồi cà phê bệt, hay đâu đó đối diện khách sạn năm sao nơi vợ chồng Brad Pitt từng ở là hàng trà sữa Part Hyatt 15 ngàn một ly. Sài Gòn dễ thương lắm, giữa lòng Sài Gòn là những con người xởi lởi, vui vẻ, cọc cằn không dấu diếm. Người Sài Gòn không biết thảo mai, người Sài Gòn yêu ghét rõ ràng, người Sài Gòn giận ra giận, thương ra thương, nhưng cũng vừa giận vừa thương nữa. Người Sài Gòn dễ tự ái nhưng lại mau quên, người Sài Gòn sĩ diện nhưng tốt bụng. Tôi thương Sài Gòn quá chừng.

Không đâu giống như Sài Gòn, khi mà bạn có thể vào quán kêu ly cà phê rồi ngồi từ sáng đến chiều, hay khi bạn đi ăn phở và xin dĩa giá trụng đầu hành, hay khi bạn kêu ly trà đá rồi xin thêm tí đá tí trà. Người Sài Gòn cởi mở với những thứ mới chắc có lẽ vì ở Sài Gòn đã có quá nhiều đến cũng như quá nhiều người đi. Chỉ có những người yêu Sài Gòn nhiều thiệt nhiều mới đi rồi lại về, mới nhớ hoài Sài Gòn.

Sài Gòn giản dị vậy đó, chứ mà ai đã lỡ yêu Sài Gòn sẽ cứ yêu hoài không bỏ được đâu. Sài Gòn là những đêm không ngủ cùng bão bóng đá, Sài Gòn là những ngày lễ hội nghẹt đường. Sài Gòn là những hàng chò nâu, hay những dãy me loà xoà.



…và Sài Gòn với cà phê sữa đá nữa.

-Tâm Vũ-


Thursday, May 8, 2014

Mẹ



Tôi viết bài này theo yêu cầu của một linh mục cho ngày của mẹ, nhưng chắc không dùng được, nên không thấy linh mục đó nói gì, tôi quyết định đăng lại ở đây vào đúng sinh nhật của mình, để tri ân mẹ. Mẹ, một trong hàng vạn hàng tỉ người mẹ khác, người đã quyết định sinh ra con và nuôi lớn con bằng này. Cảm ơn mẹ.

--


Người ta nói “con cái là quà tặng của Thượng Đế”, nhưng thật ra, cha mẹ chính là kho báu vô giá mà Thượng Đế ban tặng cho con người. Có những kho báu rất vẹn toàn, đầy đủ, cũng có những kho báu trông thì xù xì nhưng lại thăm thẳm sâu. Có những kho báu phải dìm mình thật sâu trong đó, chúng ta mới khám phá ra vẻ đẹp ẩn giấu bên trong, nhưng lại cũng có những kho báu đến khi không còn nữa chúng ta mới nhận ra mình đã mất mát đến dường nào.

Tôi có một người bạn, chị sống theo chủ nghĩa xê dịch, tức là chị không bao giờ ở đâu quá 1 tuần, mỗi lần gọi điện rủ chị đi cà phê là phải đặt lịch hẹn trước một tháng, chính vì lẽ đó, bọn chúng tôi thường mặc định chị là người rất mạnh mẽ và dày dặn kinh nghiệm đường trường. Ấy vậy mà có lần chị kể tôi nghe rằng trong những chuyến đi bất tận của đời chị, những lúc thê thảm nhất, những lúc ê chề nhất, những lúc lên bờ xuống ruộng, chỉ cần được nghe mẹ hỏi “chừng nào mày về” là đã hạnh phúc lắm rồi, bởi vì những lúc đó chị biết rằng, ở đâu đó, vẫn có một người đau đáu chờ đợi chị, giữa muôn vàn cánh cửa đóng kín, vẫn có một cánh cửa he hé mở chờ chị chạy vào, nghĩa là, chị vẫn thuộc về một nơi chốn nào đó và vẫn có một người yêu thương chị thật nhiều, vô vị lợi.

Nguyễn Phương Mai, một trong những tác giả tôi yêu thích, người đã bỏ dạy 1 năm trời sau khi ký hợp đồng giảng dạy chính thức tại một đại học ở Hà Lan để làm cuộc hành trình vòng quanh thế giới, chị tự nhận mình là một con lừa chỉ thích đi thật nhiều, chị ghi chép lại hành trình xuyên lục địa của mình, ở châu phi, ở trung đông, nhưng rồi chị cũng đã mở đầu cuốn sách của mình bằng lời cảm ơn mẹ “cảm ơn mẹ vì đã buông tay để con được lớn lên”.

Thông thường một đứa trẻ sẽ có 18 năm để tập làm con, nghĩa là trong 18 năm đầu đời đó, đứa trẻ ấy được phép làm sai nói ngọng, được phép thỉnh thoảng dở chứng, được phép đôi khi không vâng lời, đôi khi trốn việc nhà, được phép quấy quá dậy trễ; nhưng một người mẹ thì không được phép làm nháp, kể từ giây phút một sinh linh được hình thành, mẹ đã làm mẹ, mẹ đã phải làm đúng, ăn đúng, đi đúng, ngủ đúng, và nói đúng, kiểu như Elizabeth Gilbert nói “có con giống như có một hình xăm trên mặt, bạn không thể xoá nhoà hay che dấu”. Làm mẹ là một việc cực kỳ vĩ đại, bởi vì từ nay, mẹ không sống cho mẹ nữa, mẹ mua cây son và suy nghĩ xem giá cây son bằng mấy lon sữa, mẹ mua áo đầm và suy nghĩ xem giá áo đầm này bằng mấy bịch tả, mẹ tính đi uống cà phê và sực nhớ có lớp dạy vẽ cho con, trong mọi suy nghĩ nếp sống của mẹ, luôn phải chừa ra một khoảng trống thật to cho con.

Cách đây ít lâu, tôi có xem một đoạn phim phỏng vấn[1] do một công ty ở Boston, Mỹ, thực hiện. Đoạn phim ghi hình lại những cuộc phỏng vấn việc làm qua điện thoại cho công việc “khó nhất thế giới”. Công việc đó yêu cầu những thứ rất oái ăm, ví dụ như phải đứng và cúi người trong suốt quá trình làm việc, thời gian làm việc là 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần, 365 ngày một năm, khối lượng công việc tăng lên vào dịp lễ và cuối tuần, ứng viên phải có kiến thức về thương thuyết, y tế và giao tiếp, và đặc biệt, người làm công việc này không được trả một đồng nào cả…hầu hết các ứng viên tham gia phỏng vấn đều phải thốt lên rằng đây là một công việc quá khó và vô lý, có người còn cho rằng công việc này quá độc ác và bóc lột, cũng có người cho rằng đây là một trò đùa xuẩn ngốc và làm họ mất thời gian. Cuối cùng, người phỏng vấn đã trả lời rằng, thực tế, có hàng tỉ người trên thế giới này đang âm thầm làm công việc “vô lý” này, những người đó chính là “Mẹ”.

Tôi luôn cho rằng, những người lớn lên thiếu vắng hình bóng của mẹ hẳn phải là những người rất can đảm và mạnh mẽ, vì trong giấc ngủ tuổi thơ không có tiếng mẹ ru, trong những đêm khó ngủ đã không có vòng tay vỗ về của mẹ, trong những buổi chiều ngơ ngẩn ngồi lại trường đã không có dáng mẹ tất tả chạy đến đón, hay trong những đêm giật mình tỉnh giấc đã không có mẹ thì thầm “ngủ đi con”.

Lắm lúc tôi cho rằng những năm tháng đã qua, từng kỷ niệm, từng bước đi đều thấp thoáng bóng mẹ, mẹ đứng đâu đó trong những cuộc vui trong những cơn buồn, rất lặng lẽ, nhưng mẹ luôn ở đó, đôi lúc sự hiện diện[2] của mẹ khiêm hạ đến mức chúng ta không nhận ra, nhưng mẹ vẫn luôn ở đó. Sẽ ra sao nếu trong những năm tháng về sau, khoảng trống sau lưng không còn dáng mẹ, những buồn vui, ngổn ngang giữa đời không còn vòng tay mẹ sẻ chia, những thành quả trong cuộc sống tôi không còn chạy về khoe mẹ, tôi sẽ phải làm sao đây?

Mọi đứa trẻ đều cần một một người mẹ yêu thương cũng như mỗi người mẹ đều có một tấm lòng bao la, điều này cũng giống như điều ba tôi hay nói “chúng ta đều có chung một Thiên Chúa là cha và là mẹ, nhưng Chúa biết con người yếu đuối, mỏng giòn, Chúa tặng riêng cho mỗi người thêm một người cha, một người mẹ nữa, để chúng ta được thương yêu và dạy dỗ tốt hơn”.

Nói về mẹ, viết về mẹ, hát về mẹ, bao nhiêu cũng không đủ. Điều duy nhất tôi, chúng ta có thể làm, đó là mỗi đêm trước khi ngủ, nguyện xin Chúa gìn giữ mẹ, ban cho mẹ thật nhiều sức khoẻ và xin Chúa còn cho con cơ hội để làm mẹ hạnh phúc, xin còn cho con cơ hội để làm mẹ thốt lên rằng “mẹ rất tự hào về con”, thế thôi.

-Tâm Vũ-


[2] L’Humble Présente – Marc Donzé

Thursday, April 24, 2014

Nước Ý của tôi - Phần 1: Roma


Tôi kể lại cho bạn tôi nghe về chuyến đi Ý chỉ cách đây vỏn vẹn hai tháng. Tôi bất giác nhận ra, 60 ngày đủ để xoá nhoà đi rất nhiều thứ. Đi là chuyện của chân và cảm xúc là chuyện của trái tim, nhưng khi chân đã không còn tê nhừ thì cảm xúc cũng mờ phai theo. Vì vậy, trước khi quên sạch bầu trời xanh thăm thẳm của Rome, hay những bức tượng tồng ngồng ở Florence, tôi quyết tâm phải ngồi xuống viết ra những lối nhỏ mình đã đi qua. Bạn đừng đem so sánh bài viết này với bất kỳ cuốn sách ký sự nào khác như của chị Giáng Uyên, chị Phương Mai, Huyền Chip hay Trương Anh Ngọc, bởi vì thành thật mà nói, họ là chuyên gia, còn tôi chỉ là kẻ tập sự háo hức, hớn hở và ngu muội mà thôi.

Roma

Tôi vẫn cứ tiếc hoài chuyện mình ở Rome những 1 tuần mà không thể đến được “Spanish steps”, đúng, ở Roma, ở Ý, có cái chỗ gọi là “bậc thang Tây Ban Nha”, tôi cũng từng thắc mắc với dân Ý sao kỳ vậy, bạn tôi cũng chỉ cười cười nhún vai, tôi hỏi thêm ông cha người Ấn Độ, người đã gửi thư cho tôi hỉ hả hứa sẽ trở thành hướng dẫn viên cho tôi bởi cha đã có mấy năm lăn lộn đi học ở Roma, ấy vậy mà tại sao cái địa danh ấy gọi là như vậy cha cũng không biết.

Tôi đã có 1 tuần lễ căng như dây đàn chạy theo chương trình đã được hoạch định, với lịch làm việc còn hơn cả doanh nhân, bởi vì chẳng có doanh nhân nào làm việc từ 7g sáng đến 3g sáng hôm sau và chỉ loanh quanh từ phòng ngủ đến phòng hội nghị rồi xuống hầm làm việc. Ừ, tôi làm việc ở hầm, chất lừ nhỉ?! Vì vậy, ngày cuối cùng, sau khi hoàn tất hết những công chuyện tạm gọi là nghĩa vụ, sau buổi họp kéo dài 4 tiếng đồng hồ chỉ mặt nhau chửi rủ, chúng tôi bắt đầu chuyến hành trình khám phá Roma tốc hành.

Đó, chính vì lẽ này mà tôi nói đừng có so sánh tôi với các chuyên gia như chị Uyên hay Chip.

Chuyến khám phá tốc hành bắt đầu từ 10g sáng và kết thúc lúc 11g khuya. Chúng tôi háo hức để đi cho kịp 3 thánh đường lớn và đặc biệt nhất Roma, chúng tôi đi nhanh tới mức tôi không kịp ghi nhớ tên của 3 ngôi thánh đường đó, tôi chỉ nhớ, ở Basilica of Saint Paul, tôi bắt gặp hình ảnh thân thương vô cùng của các em Hướng Đạo Sinh Ý, các em được huynh trưởng dẫn đi tham quan và chỉ cho các em từng ý nghĩa của ngôi nhà thờ, tôi cứ tiếc không kịp dừng lại chụp hình với các em.

Chúng tôi đến Coloseo vào lúc trời ráng chiều, cũng vào đúng dịp chính phủ đang trùng tu đấu trường Coloseo ngàn năm tuổi, chúng tôi thất vọng chụp hình vì phải tốn cả chục euros để mua vé trọn gói vào bên trong, hôm đó chẳng hiểu là lễ hội hoá trang gì, hoặc cũng có thể là Chúa nhật hàng tuần người ta lại tổ chức lễ hội đường phố như vậy, trẻ con ăn bận từ công chúa đến siêu nhân chạy nhảy tung tăng khắp nơi, rồi đường xá ngập hoa giấy, bọn trẻ mỗi đứa một bao ni long ra sức hốt hoa giấy để tung lại, cũng hên là đường ở Ý sạch quăng tới quăng lui không sao.


Trước khi đến hồ Trevi trong truyền thuyết, chúng tôi đi ngang qua đài tưởng niệm liệt sỹ của người Ý, nghe đâu các bức tượng này là biểu tượng của lực lượng quân đội Ý, tượng trưng cho những người đã nằm xuống để nước Ý được thống nhất, ở bục cao kia lúc nào cũng có lính gác đứng nghiêm trang, bên ngoài còn có anh cảnh vệ đẹp lung linh như Totti ngoài đời thực, chụp hình còn cười rất duyên nữa.

Nấn ná mãi, cuối cùng chúng tôi đến được hồ Trevi khi trời đã sụp tối, du khách và cả người dân Ý nữa, đông kinh khủng. Du khách ai cũng lăm lăm đồng tiền xu trong tay, có người chuẩn bị sẵn rất nhiều tiền lẻ để ném nhiều lần, mỗi lần ném lại ước một điều khác nhau. Có hai câu chuyện về hồ Trevi, câu chuyện thứ nhất nói rằng bạn hãy ném tiền xuống hồ này để đánh dấu lời hứa sẽ quay lại Roma; câu chuyện thứ hai kể rằng hồ Trevi là hồ tình yêu, ném tiền xuống để cầu duyên; tôi thích câu chuyện thứ hai hơn. Tôi quên đem theo đồng xu 200 đồng Việt Nam dù đã chuẩn bị sẵn trong vali, nên đành ngậm ngùi móc đồng 2 euros ra chụp hình làm kiểu rồi cất vô, vì với 2 euro tôi mua được chai nước suối và cũng ngang ngửa 60 ngàn đồng chứ ít gì. Chắc tại thấy tôi tội nghiệp, chị bạn người Mã Lai dúi vào tay tôi đồng 50 sen của Mã Lai bảo tôi ném đi, vấn đề không phải là tình yêu hay quay lại, mà là cảm giác mình vừa ước mơ một điều gì đó thì thật tuyệt. Vậy là cầm đồng tiền trên tay, tôi cũng làm bộ nhắm mắt cầu nguyện, nước Mã Lai có đủ dân tộc, mình không khoái người gốc Ấn, người gốc Hoa cũng không hợp, Hồi giáo cũng không được, ái chà, hay là một anh trai Ý đang làm việc tại Mã Lai nhỉ, vậy là tôi ném đồng xu xuống hồ vốn đầy tiền dưới lòng hồ với lời ước “ước cho con gặp anh trai Ý đang làm việc ở Mã Lai tại Việt Nam”.


Chúng tôi đến đền Pantheon thì đã 8g tối, và hiển nhiên là chúng tôi cũng chẳng biết bên trong đền trông ất giáp thế nào, chỉ biết rằng, về đêm, quảng trường trước đền rất bình yên, trẻ con chạy chơi, những nghệ sỹ đường phố chơi nhạc, chúng tôi, những đứa điếc không sợ súng, lượn lờ nắm tay nhau nhảy trong tiếng nhạc, để thấy cuộc đời cũng đẹp lắm chứ.

Không kịp đến “the Spanish steps” nhưng chúng tôi cũng kịp đến ngắm Fontana dei Quattro Fiumi, hồ nước đại diện cho 4 con sông lớn nhất thế giới với câu chuyện kèn cựa thú vị của ông Gian Lorenzo Bernini và Michelangelo.


Tôi quay lại Rome sau cuộc hành trình Bắc tiến nước Ý. Tôi nhớ buổi sáng nắng nhẹ khi tôi ngồi một mình ở Vatican, quảng trường thánh Peter, ngắm bầu trời xanh ngút ngàn, nghe gió se se lạnh dù trời có nắng, nhìn người qua kẻ lại, nhìn những dòng khách du lịch xếp hàng rồng rắn để vào trong basilica of St. Peter. Nhìn lên những ô cửa sổ để đoán xem Đức Thánh Cha có phải đang đi qua đi lại, bàn luận với các Đức hồng y không, hay Ngài đang cầu nguyên, cũng có khi ngài vừa hắc xì xong, chẳng hạn vậy.

Roma đẹp hoa lệ , lúc nào cũng đông nghịt người, cả người bản xứ lẫn khách du lịch, dân nhập cư. Roma của tôi đã lừa tôi hai cú quá mạng ở nhà ga trung tâm và giữa đường phố lúc sáng sớm, nhưng dù vậy, Roma vẫn cứ đẹp, vẫn cứ hiếu khách, vẫn cứ dễ thương như anh trai nọ phụ tôi khiêng vali xuống metro, hay chị gái xinh đẹp chỉ tôi cách mua vé tàu hay bác gái đang đi chợ dừng lại để chỉ tôi đường đến tu viện nơi tôi tá túc những ngày cuối cùng.

Tôi nhớ mấy cây cột vĩ đại ở Vatican, tôi nhớ những chuyến xe bus dập dềnh lạn qua lạn lại đến nhức đầu, tôi nhớ tiếng “Buongiorno” mỗi buổi sáng bước ra đường, tôi nhớ món kem Ý ngọt ngào, béo ngậy đặc trưng, tôi nhớ bầu trời xanh Roma ban sáng và ẩm ướt đến run người ban chiều.

Tôi không chắc mình muốn quay lại Roma, vì triết lý đi chơi của tôi rất đơn giản, đời mình ngắn không nên đi một chỗ hai lần. Nhưng tôi vẫn sẽ ráng nhớ hoài góc đường Cornelia nơi tôi bị lạc, khách sạn Domus Pacis – chốn bình yên với cái cầu tiêu kỳ lạ, quán ăn tàu nơi tôi được ăn món cơm đúng nghĩa đầu tiên sau gần 1 tuần ăn thứ cơm risotto khủng khiếp….có quá nhiều thứ để nhớ. Đừng quên, đừng quên, đừng quên…

-Tâm Vũ-